Tag Archives: sử dụng mã vạch

Áp dụng mã số mã vạch trong quản lý ngân hàng máu

Mã vạch - ngân hàng máu

Qua kinh nghiệm áp dụng hệ thống GS1 của một số nước trong khu vực, các tiêu chuẩn của hệ thống GS1 được áp dụng để quản lý nhiều khâu của bệnh viện (phân bổ cũng như theo dõi quản lý thống kê hàng, vật phẩm trong nội bộ bệnh viện…) và trong khâu trao đổi thông tin, đặt hàng (thuốc men, dụng cụ y tế…) với các đối tác bên ngoài.

Mã vạch - ngân hàng máu

Kết hợp với áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý hậu cần, Hệ thống GS1 cung cấp các công cụ hữu hiệu, góp phần mang lại hiệu quả cho hoạt động của các bệnh viện thông qua việc cung ứng dịch vụ tốt hơn (giảm sai sót, cấp thuốc chính xác, thúc đẩy nhân viên) đảm bảo chất lượng (dữ liệu thời gian thực, truy nguyên thuốc) đưa ra quyết định điều trị tốt hơn (phân định bệnh nhân chính xác, tài liệu chính xác, có kết quả xét nghiệm nhanh chóng) nâng cao sự hài lòng của khách hàng (nội bộ và bên ngoài) nâng cao năng suất, giảm chi phí và rất nhiều lợi ích khác.

 

Hiện nay đã có trên 30 quốc gia thành viên GS1 ở tất cả các châu lục đã sử dụng Hệ thống GS1 để quản lý ngân hàng máu và phân định toa thuốc cũng như đơn vị máu truyền cho bệnh nhân cần điều trị.

* Áp dụng mô hình lập đơn hàng, cung cấp và phân phối máu truyền

Mỗi phòng bệnh giữ một lượng dự trữ máu truyền theo chuyên môn và nhu cầu của họ. Vì 70% sản phẩm đã có mã vạch nên việc quét tại các phòng giúp ngân hàng máu duy trì dự trữ chính xác lượng máu truyền tại tất cả các bệnh viện.

Thông tin về mức lưu kho tại ngân hàng máu có thể được kiểm tra thông qua mạng hệ thống thông tin. Các phòng bệnh nhận cung cấp từ ngân hàng máu và từ phòng thuốc của bệnh viện. Các phòng thuốc giữ một lượng máu truyền tối thiểu (đủ dùng cho 1 tuần) và ngân hàng máu sẽ làm mới lại lượng tồn kho của họ. Phòng thuốc bệnh viện không phải dự trữ nhiều. Dây truyền này giúp giải quyết máu truyền cho bệnh nhân hàng ngày và cố gắng dự trữ đủ dùng cho 1 tuần. Các lệnh được đưa ra bằng cách sử dụng mã số GTIN-13 nội bộ.

Sử dụng các công nghệ ADC và EDI, mức dự trữ được giữ ở mức tối thiểu suốt trong dây chuyền cung cấp từ ngân hàng máu, các bệnh viện khác nhau và các phòng bệnh. Tại ngân hàng máu, dữ liệu được nhập một cách tự động, thông tin này chỉ cần nhập một lần và không cần phải gõ bàn phím tại bất kỳ nơi nào trong dây chuyền phân phối của bệnh viện. Hơn nữa sản phẩm được ghi mã vạch bằng GTIN-13 hoặc GS1-128, được quét và sắp xếp vào cơ sở dữ liệu, được chỉnh sửa kiểm kê tự động.

Kỹ thuật viên về máu truyền/ dược hoặc cán bộ kỹ thuật về máu truyền/ dược (Medical Technical Officers – MTO) có trách nhiệm điều hành quản lý kho dưới sự kiểm soát chiến lược chung của một dược sỹ. MTO với sự cộng tác của cán bộ trợ lý kỹ thuật (Assistant Technical Officer- ATO) theo dõi và kiểm soát việc tiêu thụ máu truyền/ thuốc bằng cách dùng thiết bị nhập dữ liệu tự động.

Hai tuần một lần, ATO đi thăm các phòng và quét các khay có số lượng tối thiểu (toàn bộ khay đựng máu truyền được ghi mã vạch tại phòng thuốc bệnh viện). Sau đó thông tin này được đưa vào hệ thống máy tính, nhắc nhở ngân hàng máu phát đơn hàng một cách tự động. Đồng thời một vé chọn hàng được in ra và đính kèm vào hàng cung cấp (không phải gõ lại thông tin này). Hàng cung cấp được giao 2 lần một ngày. Vì có nhiều máu truyền không có ở phòng thuốc bệnh viện, ngân hàng máu đáp ứng một cách tự động các yêu cầu của phòng bệnh. Hơn nữa trong trường hợp phòng bệnh cần gấp một loại máu truyền nào đó, đơn hàng được chuyển trực tiếp từ phòng bệnh tới ngân hàng máu.

Ngân hàng máu

* Áp dụng cơ sở dữ liệu máu truyền

+ Cơ sở dữ liệu phân phát máu truyền

+ Cơ sở dữ liệu mua máu truyền

* Áp dụng mô hình phân phối máu truyền bắt đầu từ bệnh nhân

Toàn bộ máu truyền được ghi nhãn GTIN-13 ở mức đơn vị liều. Đối với sản phẩm không được ghi nhãn tại nhà sản xuất, phòng thuốc sẽ cấp mã GTIN-13 nội bộ. Mã số GTIN-13 nội bộ cũng được sử dụng để phân loại sản phẩm như đã nêu ở trên.

Mặt khác nhà sản xuất có thể phân định rõ ràng một bịch máu truyền cụ thể bằng cách cấp cho nó một mã số GTIN-13 duy nhất của mình.

Mỗi phòng bệnh nhân giữ dự trữ một lượng máu truyền ở mức đơn vị liều. Để theo dõi và kiểm soát quá trình quản lý máu truyền, mỗi khay chứa máu truyền được gắn một nhãn GTIN-13. Sau đó, cuối mỗi ngày chúng được đưa về phòng thuốc của bệnh viện, tại đây chúng được quét vào máy tính để tính số máu truyền đã dùng. Thông tin quét chẳng những được sử dụng để kiểm soát dự trữ mà còn để cập nhật tài khoản của bệnh nhân và tổ chức bảo hiểm của họ.

Bộ phận tư vấn Mã vạch:

 

TP Hà Nội TP Hồ Chí Minh
Số 19, Ngõ 102 Trường Chinh, Quận Đống Đa,

Hà Nội.

– ĐT: 043.566.7740 – Fax: 043.5667741

– Email: ht@mavachvietnam.com

175 Tam Châu, Tam Bình, Quận Thủ Đức,

TP Hồ Chí Minh.

– ĐT: 083.729.7190 – Fax: 083.729.7191

– Email: kinhdoanh@mavachvietnam.com

 

 

 

 

 

 

 

 

Thu tiền nước thông qua mã vạch

thu tiền nước sử dụng mã vạch

Thay vì lần giở cuốn sổ chi chít các con số, địa chỉ có đôi chỗ bị loang nhòe vì mưa để cặm cụi ghi từng chỉ số đồng hồ của từng nhà dân, giờ đây, công việc ghi chỉ số nước nước máy của các nhân viên ngành nước ở Đà Nẵng đã chuyên nghiệp hơn.

 

thu tiền nước sử dụng mã vạch

 

Chỉ cần đưa thiết bị cầm tay lướt qua mã vạch được dán sẵn trên biển số nhà, tất cả các thông tin về khách hàng, kể cả số đồng hồ nước của 3 tháng trước đó đều được hiển thị rõ ràng. Cách làm này đã được Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng bắt đầu áp dụng từ cuối năm 2012.

Theo đó, mỗi khách hàng sẽ có một mã vạch riêng (tựa như mã hàng hóa), được in và dán tại nhà (thường là trên biển số nhà hoặc tường, cổng) để giúp việc đọc chỉ số đồng hồ nước qua mã vạch từ máy handheld giảm được sai sót, thất thoát.

Cứ đến cuối tháng, nhân viên ghi số đồng hồ chỉ cần sử dụng máy handheld đến từng nhà tra mã vạch và nhập số đồng hồ nước mới cập nhật. Nếu chỉ số đồng hồ của gia đình nào có dấu hiệu bất thường, sau khi nhập dữ liệu, máy sẽ lập tức báo hiệu để cảnh báo gia đình đó kiểm tra lại hệ thống ống và việc sử dụng nước của mình.

 

Với ứng dụng công nghệ thông tin này, Đà Nẵng là địa phương thứ 2 của miền Trung (sau Khánh Hòa) áp dụng đọc mã vạch trong công đoạn ghi chỉ số đồng hồ nước.

Hiện tại, hơn 80.000 hộ dân của Q.Thanh Khê và Q.Hải Châu đã được dán hoàn tất mã vạch và áp dụng cách đọc chỉ số đồng hồ nước theo cách mới. Dự kiến đến giữa 2013, việc dám mã vạch và áp dụng cách mới này sẽ được hoàn tất trên toàn thành phố.

Ông Phạm Ngọc Thanh – Phòng Thương vụ Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng chia sẻ: “Nhờ áp dụng đọc mã vạch, quá trình chuyển dữ liệu từ thiết bị cầm tay vào hệ thống CSDL rất nhanh, và dữ liệu chính xác. Việc rút ngắn thời gian nhập chỉ số đã giúp tính tỉ lệ thất thoát nước nhanh chóng và rút ngắn thời gian phát hành hoá đơn cho khách hàng. Bên cạnh đó, nó cũng ngăn ngừa tình trạng nhân viên không đến tận nhà mà ghi bừa số đồng hồ nước”.

Lâu nay, việc ghi thủ công chỉ số nước máy của hơn 200 ngàn khách hàng, Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng đã sử dụng hơn 70 nhân viên đảm trách thì sắp đến, số người cần để hoàn tất công việc trên sẽ chỉ còn hơn nửa. “Nếu mã vạch đã được dán bị xé rách, chúng tôi phải in mã khác để dán lại, rất mất thời gian. Vì vậy mong mỗi người dân hợp tác với ngành nước bảo quản để công việc tránh ách tắc. Trong tương lai, chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu hướng đến làm sao cùng với nhập chỉ số đồng hồ thì sẽ in hóa đơn liền ngay đó để đưa đến khách hàng nhanh nhất, chính xác nhất”.

 

-Theo Thanhnien-